CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG
TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Tọa đàm trực tuyến ứng dụng khoa học công nghệ trong bảo quản, chế biến vải thiều: Giải pháp nâng cao giá trị sản phẩm

(BGĐT) - Vải thiều Bắc Giang đã và đang được nhiều người tiêu dùng trong, ngoài nước ưa chuộng bởi mẫu mã đẹp, hương vị thơm ngon. Tuy nhiên, mùa thu hoạch chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, vì thế đòi hỏi việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ (KH&CN) vào bảo quản, chế biến quả vải hết sức quan trọng. Xung quanh vấn đề này, mới đây, Báo Bắc Giang điện tử đã tổ chức tọa đàm trực tuyến với ông Nguyễn Đức Kiên, Giám đốc Sở KH&CN.

 

Tọa đàm,  trực tuyến,  Ứng dụng,  khoa học công nghệ, bảo quản, chế biến vải thiều

Vải thiều trồng theo tiêu chuẩn GlobalGAP ở xã Hồng Giang (Lục Ngạn).

Thưa ông, được biết thời gian qua, tỉnh rất quan tâm đến việc ứng dụng KH&CN vào bảo quản và chế biến vải thiều. Vậy ông có thể cho biết kết quả cụ thể hoạt động này?

Trong những năm qua, ngành KH&CN tích cực ứng dụng các công nghệ bảo quản nhằm nâng cao chất lượng, năng suất vải thiều phục vụ xuất khẩu. Từ việc ứng dụng KH&CN trồng vải theo hướng VietGAP, GlobalGAP nên diện tích những loại vải này ngày càng tăng. Đặc biệt, năm 2015, tỉnh Bắc Giang đã sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 12.200 ha, sản lượng gần 80 nghìn tấn; xây dựng mô hình sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn GlobalGAP với diện tích 50 ha, sản lượng 300 tấn, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu sang Mỹ, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần tăng giá trị 20-30% so với vải thiều sản xuất thông thường. 

Hiện nay, chúng ta đang triển khai ứng dụng những công nghệ nào vào bảo quản và chế biến vải thiều, thưa ông?

Có rất nhiều công nghệ chúng ta đang triển khai ứng dụng như: Thử nghiệm chăm sóc và bảo quản vải thiều theo công nghệ Nano bạc, tức là dùng màng Nano bạc phun lên cây vải để tạo lớp màng bảo vệ quả vải tránh tác nhân gây hại. Ứng dụng công nghệ này, năng suất tăng lên 10-15%, vỏ quả vải đỏ hơn, kéo dài thời gian bảo quản so với vải thông thường 15 ngày. Công nghệ này phù hợp với xuất khẩu sang các nước như Malaysia, Singapore, Úc... 

Cùng đó là ứng dụng công nghệ bảo quản bằng màng MAP do Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam (Bộ KH&CN) chuyển giao. Khi quả vải hái xuống sẽ được đưa vào hộp được bao bọc bởi lớp màng mỏng giống nilon và bảo quản trong nhiệt độ lạnh, có các lỗ để thoát khí, thời gian bảo quản từ 20-25 ngày, chất lượng bảo đảm 99% như ban đầu. Việc ứng dụng công nghệ CAS (Nhật Bản) cũng đã được triển khai từ năm 2015. Đây là công nghệ tiên tiến trên thế giới, được bảo quản ở nhiệt độ lạnh sâu, thời gian bảo quản từ 1-3 năm. 

Ngoài ra, công nghệ Rural (Israel) cũng được Mỹ chứng nhận và đang nhập về Việt Nam, dự kiến năm 2017 sẽ được ứng dụng với năng suất 1 tấn quả/giờ. Khi công nghệ này được triển khai, quả vải có thể vận chuyển sang Mỹ, Úc bằng đường biển thay vì bằng đường hàng không do quả vải có thể bảo quản được 40 ngày, từ đó sẽ giảm chi phí rất lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng KH&CN vào bảo quản vải thiều tươi ở Bắc Giang còn gặp những khó khăn, vướng mắc gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Đức Kiên: Hiện nay, các công nghệ cho việc bảo quản quả vải thiều có giá thành tương đối cao, trong khi đó sản xuất vải thiều lại mang tính mùa vụ, thời gian thu hoạch ngắn nên các doanh nghiệp (DN) chưa mặn mà đầu tư. Do đó, hầu hết các công nghệ đang được ứng dụng đều có sự hỗ trợ của Nhà nước. Nếu như ngành KH&CN không có giải pháp nhân rộng, người dân sẽ gặp khó khăn trong ứng dụng. Mặt khác, do công nghệ mới nên cần có thêm thời gian để người dân, DN thích ứng...

Thực tế cho thấy dường như lâu nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến khâu bảo quản quả vải tươi, còn việc chế biến lại chưa được quan tâm đúng mức để đem lại hiệu quả rõ rệt. Ông có ý kiến gì về vấn đề này? 

Đây là thực trạng diễn ra từ nhiều năm do chúng ta quan tâm nhiều đến việc tiêu thụ quả vải tươi để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, góp phần tăng giá trị vải thiều. Có một thực tế hiện nay, trong số 32 nghìn ha vải thiều không phải tất cả có chất lượng quả đồng đều như nhau mà thường phân thành loại 1,2,3, trong đó vải thiều đẹp, chất lượng thường được xuất khẩu; một phần còn lại tiêu thụ dưới dạng sấy khô, hoặc chế biến nước vải thiều tươi. Trước đây, có nhiều dự án KH&CN đưa vào bảo quản quả vải thiều sấy khô, chế biến nước vải thiều đóng hộp nhưng giá trị kinh tế mang lại không cao do sức tiêu thụ chậm. Hay như chúng tôi đã nghiên cứu làm rượu Brandy từ vải thiều (công nghệ của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) nhưng khi triển khai còn gặp nhiều khó khăn do tính chất của quả vải thiều nên chưa thực hiện được...

 

Tọa đàm,  trực tuyến,  Ứng dụng,  khoa học công nghệ, bảo quản, chế biến vải thiều

Bảo quản vải thiều bằng công nghệ CAS (Nhật Bản).  Ảnh: Hoàng Thoa

Năm 2017, Sở KH&CN sẽ đề xuất với UBND tỉnh thí điểm, nghiên cứu hàm lượng vi chất trong quả vải thiều để có những đánh giá khoa học về tác dụng của quả vải đối với sức khỏe con người. Với sản lượng từ 150-190 nghìn tấn/vụ, nếu chúng ta nghiên cứu, làm rõ hàm lượng những chất rất có lợi cho sức khỏe, tôi tin rằng việc tiêu thụ sẽ thuận lợi hơn (cả vải tươi, vải sấy khô, nước hoa quả...). 

Được biết, năm nay việc chiếu xạ quả vải thiều xuất khẩu sang một số thị trường khó tính được thực hiện tại Trung tâm chiếu xạ ở Hà Nội thay vì phải vào TP Hồ Chí Minh như trước. Ông có thể thông tin cụ thể hơn về vấn đề này?

Xuất phát từ yêu cầu đặt hàng của UBND tỉnh với Bộ KH&CN về việc bảo quản vải thiều xuất khẩu sang các nước khó tính như Mỹ, Úc..., Bộ KH&CN đã quyết định đầu tư 30 tỷ đồng cho Trung tâm chiếu xạ (Bộ KH&CN) tại Hà Nội kể từ năm 2014. Đến nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động (công suất 20-30 tấn/ngày). Theo đó, hiện nay các DN muốn xuất khẩu sang Úc sẽ không phải vào TP Hồ Chí Minh chiếu xạ. Cách đây ít ngày, phía Úc đã cấp giấy phép cho Trung tâm chiếu xạ ở Hà Nội có đủ điều kiện xuất khẩu vải thiều sang nước này. Giá thành chiếu xạ tại Hà Nội để xuất sang Úc chỉ mất khoảng 6 nghìn đồng/kg, giảm 80-90% chi phí vận chuyển so với trước, dẫn đến giá thành quả vải thiều sẽ hạ hơn.

Khi chúng tôi làm việc với Trung tâm chiếu xạ ở Hà Nội, họ đã cam kết và cũng là yêu cầu về tiêu chuẩn của Úc đó là khi đã chiếu xạ quả vải thiều, sẽ không được chiếu xạ các sản phẩm khác. Bộ KH&CN cũng nhất trí ưu tiên tối đa cho việc chiếu xạ quả vải thiều, bất kể ngày hay đêm. Đến nay, có 4 công ty đã đăng ký chiếu xạ vải thiều tại Hà Nội với sản lượng hơn 30 tấn. Đây là thành công đầu tiên, là bước khởi đầu báo hiệu việc tiêu thụ vải thiều của Bắc Giang thuận lợi hơn. 

Thời gian tới, Sở KH&CN sẽ có những giải pháp gì để việc ứng dụng KH&CN vào công tác bảo quản và chế biến vải thiều đạt chất lượng, đem lại hiệu quả tốt nhất?

Thực ra chúng ta đã đầu tư KH&CN khá nhiều vào cây vải thiều, vì thế mà quả vải thiều đã có chỗ đứng trên thị trường. Không dừng ở đó, từ năm 2017 và những năm tiếp theo, chúng tôi sẽ mở rộng diện tích ứng dụng công nghệ Nano bạc vào bảo quản vải thiều và hiện nay đang triển khai. Mặt khác, Sở sẽ phối hợp với Bộ KH&CN ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel để trồng, chăm sóc vải thiều và Bộ đã đồng ý. Việc ứng dụng công nghệ này không chỉ đơn thuần giúp cho việc tưới mà còn nghiên cứu đặc điểm, tính chất của cây vải thiều, các chất dinh dưỡng để chăm sóc cho quả vải thiều to hơn, màu đỏ hơn, chất lượng hơn. Dự án sẽ được triển khai từ 2017-2019 với diện tích khoảng 30- 50 ha.

Chúng tôi cũng sẽ phối hợp với Bộ KH&CN hoàn thiện xong dự án ứng dụng công nghệ bảo quản Jural (Israel), dự kiến năm 2017 sẽ hoàn thành. Khi công nghệ này được triển khai sẽ giúp cho việc xuất khẩu vải thiều sang Mỹ thuận lợi, giá thành cạnh tranh hơn. Đồng thời sẽ giới thiệu những chế phẩm sinh học mới của Mỹ, Nga để giúp người dân chăm sóc vải thiều tăng năng suất, chất lượng hơn. 

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thành Nam - Công Doanh

Tọa đàm, trực tuyến, Ứng dụng, khoa học công nghệ, bảo quản, chế biến vải thiều
 
Bình luận mới vừa được thêm vào. Click để xem
Mới nhấtHay nhấtXếp theo:
 
 
 
 
 
     
 

TIN MỚI NHẤT CÙNG CHỦ ĐỀ

 
Doanh nhân Lê Văn Thùa: Khó nhất là vượt qua chính mình

Doanh nhân Lê Văn Thùa: Khó nhất là vượt qua chính mình

(BGĐT) - Hơn 20 năm trước, sau khi xuất ngũ, doanh nhân Lê Văn Thùa, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Việt Thắng đã lựa chọn khởi nghiệp từ một cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) nhỏ ở thị xã Bắc Giang. Vững vàng chèo lái “con thuyền” doanh nghiệp (DN) vượt qua sóng gió đi đến thành công, ông đã nhiều lần được vinh danh là doanh nhân tiêu biểu của tỉnh và toàn quốc.

Giữ gìn nét đẹp văn hóa lễ hội ở Bắc Giang

Giữ gìn nét đẹp văn hóa lễ hội ở Bắc Giang

(BGĐT) - Mùa lễ hội Xuân Đinh Dậu sắp đến, nhiều nơi đang tích cực chuẩn bị cho khai hội. Làm gì để phát huy những nét đẹp văn hóa, khắc phục hạn chế, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách ở lễ hội? Phóng viên Báo Bắc Giang phỏng vấn ông Nguyễn Sĩ Cầm, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về vấn đề này.

Vượt qua bóng tối

Vượt qua bóng tối

(BGĐT) - Bỗng dưng đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, chị tưởng bầu trời sụp xuống đầu, cuộc sống trở nên vô nghĩa. Nhưng bằng ý chí, nỗ lực của bản thân cùng sự động viên, chia sẻ của mọi người, chị đã vượt lên sự nghiệt ngã của số phận, sống có ích cho gia đình, xã hội.

Dễ tăng, khó giảm

(BGĐT) - Một, hai tháng nay, câu chuyện giá nông sản từ gà, lợn, trứng đến rau xanh giảm mạnh đang khiến nông dân khốn đốn.

 

© Bản quyền thuộc Báo Bắc Giang. Địa chỉ: Số 49 Nguyễn Văn Cừ - TP Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang.
@ Tổng Biên tập TRỊNH VĂN ÁNH - Tòa soạn ĐT:84.0240.3856624
Fax:+84.0240.3856624 , Email: toasoanbbg@gmail.com
Giấy phép hoạt động báo chí điện tử số 285/GP-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 02-6-2016.
® Ghi rõ nguồn "Báo Bắc Giang điện tử" khi phát hành lại thông tin từ website này.