Hôm nay: 30/05/2017 01:56:29 (GMT+7)
Liên hệ tòa soạn: +84.0204.3 856 624
CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Quê nhà

(BGĐT) - Đối với mỗi người cầm bút, quê nhà giữ một vị trí rất đặc biệt trong suốt quá trình hình thành tính cách nhà văn cũng như sự bùng nổ sáng tạo.

 

Quê nhà, người cầm bút, nhà văn

Một chiều núi Neo .  Ảnh: Trần Đức

Vào năm mười tám tuổi tôi bắt đầu viết những trang văn đầu tay, ở đó thấp thoáng hiện ra hình ảnh những người thân, hình ảnh quê nhà yêu dấu và tuổi ấu thơ nhiều buồn bã của mình.

… “Lần ấy, vào một đêm sau trận mưa rào, anh tôi nhảy ra khỏi giường, khẽ bảo tôi: “Em ngủ ngoan nhé, anh ra ao đánh lờ”. Tôi nhổm dậy níu anh lại: “Nước đầy thế này ngập lờ mất, đánh làm sao được”. Anh ấn tôi nằm xuống. “Cứ để anh đi, anh đặt ở ven ao”. Chưa bao giờ tôi thấy anh tôi dịu dàng như thế, dù vẫn biết anh yêu tôi ghê lắm.

Tôi theo anh ra ngoài sân. Trời ớn lạnh, vài ngôi sao lác đác mọc, từng đám mây màu khói thuốc bám trên nền trời. Tôi nghe có tiếng chó sủa mé đầu làng, phía bốt Sen Hồ pháo sáng “xi nhan” giặc bắn lập lòe xanh đỏ. Ra tới cổng anh tôi đứng lại ngập ngừng dặn: “Hễ u có dậy, bảo sáng mai anh sẽ về”. Tôi gật đầu khẽ vâng. Chưa bao giờ tôi “vâng”, tôi chỉ quen gật đầu “ừ”, kể cả với u tôi cũng vậy. Ngày ấy mà vâng là cảm thấy ngượng lắm, bọn nhỏ xóm tôi đều thế cả, chẳng gì mình tôi. Anh tôi mang lờ đi rồi, tôi không vào giường ngủ nữa, ngồi bệt xuống thềm, nền đất ẩm lạnh cả người. Tự nhiên không hiểu sao tôi thấy lo lo, chưa bao giờ tôi cảm thấy như thế. Nhưng rồi tôi cũng ngủ thiếp đi, trong giấc mơ hôm ấy vẫn có những con cá rô lấp lánh quẫy trong bụng chiếc lờ tre cật. 

Sớm ra khi tôi choàng dậy thì biết có chuyện gì quan trọng đã đến. Làng xóm kéo vào sân nhốn nháo, u tôi khóc không thành tiếng: “Khổ cho anh mày con ơi, ra với anh mày ở ngoài Gò Thần ấy, con bỏ u con đi con ơi…”. Tôi hoảng hốt giật khỏi cánh tay u tôi, mếu máo chạy ra phía đầu làng. Gò Thần chen chúc những người, ai cũng buồn, ai cũng ngơ ngác, tất cả đều im ắng. Tôi chen vào, lăn đến bên anh tôi, anh tôi nằm ngửa, ngực đầy máu, đầu bết bùn, cái lờ rô bẹp dí trong tay. Bấy giờ tôi chỉ biết khóc, khóc to nhất. Dân làng chôn anh tôi ở đỉnh Gò Thần, anh tôi nằm đấy vừa cao lại vừa đẹp. Riêng tôi thì tiếc thầm là sao cái ao làng rộng là thế mà vẫn xa nơi anh tôi nằm.

Anh tôi mất rồi tôi mới biết rằng đêm đêm, khi đặt lờ đơm cá anh tôi vẫn thường đi thăm đường cho bộ đội ta qua vùng tự do. Anh tôi là liên lạc của du kích xã. Đêm ấy anh tôi cùng với chị Hiên bên xóm Đoài đi bắt liên lạc, ra đến Gò Thần thì gặp Tây phục kích, anh tôi bị giết, còn chị Hiên thì chạy thoát. Tôi khi ấy còn nhỏ, không biết mặt chị Hiên, bây giờ chị cũng không còn nữa. Chị ấy mất trong một đêm đưa bộ đội ta vượt sông Cầu.

U tôi thường nhắc với tôi một câu nghe như đã thuộc lòng: “Tội nghiệp, giá mà còn chúng nó… hai đứa yêu nhau là thế, cái Hiên chỉ kém anh mày mỗi một tuổi, vậy mà đảm đáo để”.

Những lúc ấy tôi thường im lặng, óc tôi xôn xao lên bao hình ảnh, những ngôi sao đêm lạnh lùng, những con cá rô lấp lánh quẫy, mùi thóc nếp và mùi hoa sen, tiếng chân chú cào cào đạp lách tách trên cỏ, những đám mây đen trên nền trời và người chị gái vùng vẫy trong lòng sông đầy sao…”.

Tôi đã thuộc lòng đoạn văn ấy, sửa đi sửa lại từng chữ một, cân nhắc nhịp điệu từng câu, từng đoạn. Tất cả phải được đẩy tới chỗ hoàn mỹ, phải thật nhiều dụng công, sao cho cái tình sâu nặng gửi vào trang sách có sức ngân nga cùng thời gian. Lớn lên có dịp đi nhiều nơi, gặp nhiều cảnh ngộ, những trang viết đầy lên với không biết bao nhiêu chuyện đời, nhưng thỉnh thoảng ấn tượng quê nhà vẫn bất ngờ hiện ra trong các trang văn như thể chợt gặp lại một câu hát ngoài đồng vắng.

Từ cái làng mình nghĩ rộng tới cái làng Việt. Chúng ta đang đứng trước những xô đẩy khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại. Chúng ta nghe thấy những áp lực từ nhiều phía đe dọa sức sống và bản sắc văn hóa dân tộc mình. Và như một ý thức tự vệ thường trực, lại một lần nữa chúng ta phải nghĩ đến cái làng Việt cổ. Nó chính là bàn đạp, là căn cứ của mọi quá trình cứu nước cũng như khởi dựng phát triển. 

Cái làng Việt chính là cái nôi tuyệt vời, chính là cội nguồn của mỗi người Việt. Từ nơi ấy tinh hoa của một nền văn hóa cùng lòng yêu nước thương nòi đã được ươm trồng chăm sóc một cách có hiệu quả nhất. Cho nên nếu hỏi quê hương người Việt Nam là ở đâu thì ai cũng có thể trả lời ngay rằng quê hương của chúng tôi là cái làng Việt. Củng cố và xây dựng một cách toàn diện vững chắc cái làng, cho nơi ấy mỗi ngày một thêm nhân hậu tốt đẹp đầm ấm là một hướng nhìn đúng, có tầm chiến lược. 

Cùng với bước đi của thời gian, cái làng Việt tất cũng phải không ngừng đổi mới, nhưng đổi mới thế nào để vẫn còn nó, để nó ngày càng là nó hơn nữa thì đấy mới là điều cần lo nghĩ nhiều. Đây là cả một công cuộc lâu bền đời này qua đời khác, đòi hỏi nhiều nỗ lực trí tuệ và cần nhất là phải có một tình yêu hết sức chân thành. Một khi để mất đi cái tình sâu nặng ấy, một khi đã hóa nhạt nhòa biến báo dối giả thì hẳn sẽ lúng túng to và khó mà làm nổi. 

Tôi đọc những trang văn của các ông Tự lực văn đoàn thì thấy bóng dáng làng quê Việt Nam có vẻ êm đềm quá, dễ sống quá. Đến lúc đọc những trang văn của các ông Hiện thực phê phán thì lại thấy sao tăm tối gớm vậy. Hình như ở đây cả hai trường phái đều đã bộc lộ hết mặt mạnh mặt yếu của mình và cả hai có lẽ vẫn còn có chỗ nghĩ chưa đến.

Nếu cái làng Việt của chúng ta chỉ có thế thôi thì làm gì có nổi một Thủ khoa Huân, một Nguyễn Trung Trực, một Phan Châu Trinh, một Phan Bội Châu, một Nguyễn Thái Học, một Hồ Chí Minh…Tất cả đều đã từ cái làng Việt mà ra.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ vừa qua, cứ khiêm tốn mà nói, khắp đất nước mỗi làng đã đóng góp một đại đội, thế thì thử tính xem cả nước đã từng có bao nhiêu sư đoàn và hiện vẫn đang còn bao nhiêu bà mẹ, bao nhiêu người vợ ngồi trước thềm trông ngóng chồng con. Đủ thấy cái làng Việt là đầy ắp sức người sức của, là kho lẫm tinh thần và vật chất không bao giờ vơi cạn. Đó là sự chuẩn bị âm thầm của lịch sử. Nước nhà có mấy ngàn năm tuổi thì cái làng Việt cũng có tuổi thọ ngần ấy. Một làng Việt từng trải lắm chìm nổi như chính đất nước từng trải lắm chìm nổi. Từ nơi ấy bước ra lớp lớp những người con đầy đủ phẩm hạnh dám ghé vai gánh vác mọi nỗi gian nan, kiêu hãnh trước mọi thách thức hiểm nghèo để đất nước mình ngẩng đầu.

Về một mặt khác mà nói, quả thật không dễ dàng tránh khỏi, cũng từ nơi ấy đã và vẫn đang bước ra không ít kẻ manh tâm tham lam kết bè kết phái, xem ra rất thiếu tự trọng và thử trông vào mà xem, cái ngạo ngược nhơn nhơn hằng ngày của nó mới bất nhẫn và đáng xấu hổ làm sao.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ vừa qua, cứ khiêm tốn mà nói, khắp đất nước mỗi làng đã đóng góp một đại đội, thế thì thử tính xem cả nước đã từng có bao nhiêu sư đoàn và hiện vẫn đang còn bao nhiêu bà mẹ, bao nhiêu người vợ ngồi trước thềm trông ngóng chồng con. Đủ thấy cái làng Việt là đầy ắp sức người sức của, là kho lẫm tinh thần và vật chất không bao giờ vơi cạn.

Cho nên càng ngẫm càng thấy cái làng Việt là rất lạ, nó đang là một câu đố đối với các bậc trí giả và đây cũng là món nợ tinh thần mà mỗi người Việt Nam đang ở bất cứ nơi nào đều nên ngẫm nghĩ mà tự lo trang trải. Cho đến giờ, trong cái đầu bã đậu của tôi mặc dù đã rất cố gắng vẫn không sao vỡ ra nổi một vấn đề lý luận chừng như mỗi ngày một thêm khó hiểu. Sao một đám đông từ những cánh đồng bước lên, biết cầm vũ khí lao vào sống mái cho nền độc lập tự do của dân tộc và của chính họ, trí dũng song toàn, khôn ngoan đảm lược là vậy, thế mà suốt chặng đường dài vẫn luôn luôn được nhắc nhở là cần phải biết khắc phục tầm nhìn thiển cận manh mún. Tôi nghĩ tầm nhìn xa nhất đúng đắn nhất vẫn chỉ có thể là tầm nhìn hướng về tương lai Tổ quốc, ngoái trông đức sáng tổ tiên, người xưa gọi là minh đức truy ân. 

Năm nay tôi đã ngoài bảy mươi, tóc trên đầu bạc nhiều, đêm nằm ho sâu từng cơn. Nghe ngoài trời đang có rét hại tràn về, chân mạ ngoài đê lại sắp vàng úa. Mấy chục năm mới lại thấy có tuyết rơi trên Sa Pa, trên xứ Lạng. Nếu tôi nói suốt đời tôi vẫn ôm giữ một tình yêu dành cho một cô bé dịu dàng ở quê nhà, một tình yêu từ thuở lên mười thì liệu có ai tin cho không. Tôi từ thuở lên mười đã theo mẹ về sống bên quê ngoại, chớm trưởng thành là vào bộ đội. Tiếng là đã qua mặt trận này mặt trận nọ nhưng nhìn chung là vẫn quanh quẩn Hà Nội, thành người Hà Nội. Lâu lâu cũng có về thăm quê, nhưng bảo đã hiểu kỹ, đã cảm thông sâu sắc với cuộc sống nông thôn thì không dám. Làng quê giờ đây đối với tôi chỉ còn là một nơi để nhớ để thương mà thôi. Nơi ấy tôi đã gửi lại mồ mả cha ông, họ mạc lâu ngày thành xa, bạn bè cùng lứa đều đã già, thoáng một cái đã lên ông lên bà, đã người còn kẻ mất, mỗi đứa một phương. 

Tôi cảm thấy thân phận mình buồn chẳng thua gì ông Hạ Tri Chương thời Đường bên Tàu. Thơ ông có một bài kể lể tình cảnh lần về thăm cố hương, ngậm ngùi biết bao khi mấy đứa trẻ trong làng trông thấy ông thì trố mắt hỏi, vậy ông là người từ đâu đến.

Một hôm anh Lê Thái, Phó Chủ tịch Hà Bắc rủ tôi, mình về Lục Nam tạt qua nhà một lát rồi lên thăm anh Hoàng Dương, Giám đốc Lâm trường Mai Sưu, Chu đi cùng cho vui. Thế là tôi liền nhảy lên chiếc Com măng ca. 

Trên xe tôi kể anh Lê Thái nghe, hai chục năm về trước tôi có lần đã về Mai Sưu, lúc đó đang là tân binh từ phố Thắng khoác ba lô cuốc bộ vòng vèo qua Yên Thế xuống Lạng Giang sang bên này. Leo lên dốc Sàn chợt thấy vùng núi tím biếc sừng sững choán trước mặt, một ấn tượng thật rực rỡ. Người chỉ huy đơn vị bảo đấy là núi Lục nguồn của sông Lục, trông thế mà rất xa. Con phà đưa cánh lính trẻ qua sông được kéo bằng cáp. Trông sang bờ bên kia tôi hỏi bác thợ phà, có phải bên ấy xưa là một cái chợ ? Bác ấy gật đầu, giờ vẫn đang có đấy nhưng lèo tèo lắm, mấy cụ ở đây kể xưa mười nay chẳng được một. Ngày xưa là trên bến dưới thuyền mùa nào thức ấy tiền rừng bạc bể. Thuyền miền hạ ngược lên mang theo đủ các sản vật biển, ngựa la trâu bò vùng cao kéo xuống ngổn ngang những sản vật rừng. Nay khéo chỉ có ba gian tạp hóa thương nghiệp huyện là đáng kể, người đến có lúc cũng đông nhưng một bánh xà phòng, mấy cái bát sành cũng còn thiếu thì hỏi buôn bán cái đếch gì. 

Rời phà chúng tôi leo dốc. Vách bờ dựng đứng, Lục Giang không rộng nhưng sâu, dòng nước đang chảy cuồn cuộn. Chúng tôi vượt qua một mảnh đất trống vắng, dấu vết xưa may chăng còn lại là vài nếp nhà cổ, căn gác thấp cửa giả xộc xệch. Có một quán thịt chó nấp sau gốc đa, ngoài cửa treo lủng lẳng tấm biển “Phở chó ba hào”. Bụng anh nào cũng đói, chúng tôi vừa đi vừa tán dóc. Vậy thì ba hào là tên quán hay là giá tiền một bát? Anh chỉ huy chạy lên chạy xuống vừa chạy vừa nói rất to, đấy là tên của chủ quán, bố là ba hào, con là ba hoa, cháu là ba toác, chắt là ba bị, chít là ba que! Tớ đi bộ từ Điện Biên về đây với các cậu, nói cho mà biết còn tốn cơm nhiều, tán dóc không dễ đâu. Anh em thì thào thủ trưởng hóm ra phết.

Chuyến này trở lại Mai Sưu cùng anh Lê Thái xe vẫn phải qua phà, nhưng cạnh bến đã thấy xây xong một dãy trụ cầu cao ngất ngưởng. Anh Thái nói hy vọng chuyến sau Chu lên sẽ có cầu sắt, đường sá sẽ được mở rộng thêm. Tôi thấy quyến luyến nhiều với vùng đất này dù chẳng rõ vì đâu. Ngày nào mẹ tôi kể thuở con gái bà hay lên đây vào những phiên chợ chính lần nào lên cũng gặp cậu Phồn là con trai cụ Đề Thám. Nghe nói tây giết cụ Đề rồi bắt cậu uống một liều thuốc bột gì ấy thế là cậu thành chậm chạp, rồi chúng xếp cho cậu một chân kéo phà. Những chuyện như thế cứ ngấm vào tôi từ bao giở bao giờ.

Quá trưa xe chúng tôi tới lâm trường. Từ trong nhà khách anh Hoàng Dương chạy ra tay bắt mặt mừng. Anh Dương là cấp dưới, anh Thái là cấp trên nhưng gặp nhau thấy tự nhiên và thân tình lắm, cứ ông ông tôi tôi. Rồi chỉ vào tôi, anh Dương hỏi cậu là thằng nào lạc vào đây? Tôi cười chưa kịp nói gì thì anh Thái đỡ lời đây là Đỗ Chu nhà văn quê ta, tôi mang đến cho ông đấy. Anh Dương cười lớn, hai bàn tay rộng và đầy như bàn tay hổ vồ lấy vai tôi, anh reo lên thế thì hay lắm, giờ ta vào mâm thôi bụng tớ đang sôi sùng sục đây. Vừa rót rượu ra các chén, anh vừa nói, hôm nay đón anh em các ông lên chơi bữa cơm chỉ có một món, đây là ba ba suối om với thịt gà. Ba ba suối quanh năm nhặt sa nhân, bảo nó là ba ba cũng được mà bảo nó là thuốc trường sinh cũng được. 

Giữa bữa anh Thái khen mấy tay đầu bếp trên này giỏi đấy. Anh Hoàng Dương cả cười, anh kể một kỷ niệm. Có một lần Phó Thủ tướng Đỗ Mười về làm việc với tỉnh đã kéo cả bầu đoàn lên chơi trên này, tớ quyết định nhà bếp bắt một con dê nấu theo cách của tớ. Sau bữa ăn ngồi uống trà ông cụ bảo, tìm thịt dê không khó nhưng làm để ăn được lại là khó. Xem ra các cậu trên này biết ăn biết làm. Đã không biết ăn thì cũng chẳng biết làm. Lâm trường các cậu phát đạt là phải. Ngừng một lát đột nhiên ông cụ hỏi, tớ nghe nói cậu nhiều con quá, đẻ gì đẻ lắm, không sợ kỷ luật à! 

Tôi bình tĩnh trả lời, thưa anh, theo tôi chính sách hạn chế sinh đẻ chỉ nên áp dụng ở miền xuôi, dành cho đồng bào miền xuôi, chứ miền núi và hải đảo thì đừng nên áp dụng. Hàng nghìn năm nay dân xuôi quen sống quẩn quanh rồi, lạt rừng nhạt biển, chả thể xốc vác đứng mũi chịu sào được. Đã bao lần chúng ta đưa họ lên trên này, quan tâm đủ thứ thế rồi vẫn thất bại. Giống như cóc bỏ đĩa vậy thôi, không trước thì sau cũng bỏ về. Muốn đứng vững ở nơi này phải là những kẻ được sinh ra từ nơi này. Mạnh mẽ hiểu rừng yêu rừng. Phẩm chất ấy chỉ thấy ở những đàn con đàn cháu chúng tôi mà thôi. Chúng không bỏ đi đâu cả, chúng thề sống ở đây và chết ở đây. Núi rừng đang cần lớp lớp những con người như vậy, càng đông càng tốt. Nói anh bỏ quá cho, nếu còn sức là chúng tôi còn đẻ, mai này lớn lên lũ chúng sẽ cố gắng học hành để làm chủ núi rừng này.

Nói xong mình đâm hoảng, không khéo ông cụ sẽ đập bàn. Nhưng không, sau một hồi gật gù im lặng, ông cụ đứng dậy đưa tay ra cho mình nắm. Kể cậu nói cũng có lý, việc này còn phải tính kỹ hơn.

Sẩm tối chúng tôi lên xe ra về. Đã có một buổi chuyện trò đáng ghi vào sách để đời. Lúc dừng lại đợi phà, anh Lê Thái dặn tôi như dặn một người em, có dịp Chu cố gắng quay lại bảo Hoàng Dương kể cuộc đời của nó. Chúng mình một bọn chăn trâu thả diều trên những cánh đồng hai bờ sông này, rồi lại cùng tham gia kháng chiến. Hồi ấy vùng trên kia rất thiếu cán bộ nòng cốt nên tổ chức quyết định biệt phái Hoàng Dương vào một xã xa nhất vừa làm bí thư vừa trực tiếp chỉ huy du kích, Tây đồn nghe tiếng anh ấy là giật mình, ô là là, thằng này là một con hổ xám.

Tháng trước báo Bắc Giang tổ chức cuộc gặp mặt thường niên với đông đủ cộng tác viên ở xa về, tôi cũng có mặt. Một cuộc hội ngộ chóng vánh mà ấm áp. Như người trong nhà gặp nhau vậy. Họp xong tôi đề nghị cho một chiếc xe lên Tân Yên thăm ông Đồng Văn Đạo, đi cùng tôi là một phóng viên trẻ của tòa soạn. Đó là một buổi chiều khô hanh thường thấy của trung du. Ông Đạo ra tận ngõ đón chúng tôi, còn bà thì đứng trước thềm mộc mạc chào khách, dễ đến mấy năm rồi chú mới lại về.

Trong câu chuyện hàn huyên dưới mái nhà tuềnh toàng tôi kể một ấn tượng mà tôi thấy vui ở cuộc hội ngộ buổi sáng. Ông tổng biên tập của tờ báo vừa có một chuyến đi trong đoàn nhà báo Việt Nam thăm nước Anh, vậy mà khi đứng trình bày tóm tắt tình hình trong tỉnh một năm vừa qua, những cái được và những cái chưa được thì lại thấy nói năng mạch lạc chắc chắn như thể tay này vừa lội ở đồng lên chứ nó chả đi đâu cả. Ông Đạo nghe thế thì cười thú vị, ông nói lâu nay mình ngồi ở nhà nhưng cũng biết ngoài kia đang có một đội ngũ trẻ đã trưởng thành. Không phải chỉ trên tỉnh mà dưới các huyện xã cũng vậy. Anh em thông minh năng động và thực tiễn hơn chúng mình nhiều. Đấy là một điều rất đáng mừng. Tuy nhiên giữa những người ưu tú vẫn có một số cần phải cố gắng thêm, sao cho giản dị hơn, khiêm nhường và sạch sẽ hơn để bà con còn trông vào. Lặng đi một lúc ông nhìn xoáy vào tôi bằng đôi mắt vừa hiền vừa nghiêm, hạ thấp giọng ông nói, mấy tập sách chú gửi về tôi đều đã đọc cả và cũng đã có thư phúc đáp gửi đến chú. Đọc thấy được lắm đấy. Nhiều lúc tôi nghĩ chú sẽ là một trong những người về sau cùng, chú sẽ còn viết nữa, nhưng đừng quên thời gian đi mau lắm, hãy thu xếp để viết lấy ít trang về quê nhà, như thế mới phải. Nghe vậy tôi chỉ biết cảm ơn ông.

Nhiều năm về trước có một chiều nhà văn Nguyên Hồng long tong dắt một chiếc xe đạp con con tìm đến nhà tôi, đi bên cạnh là một thiếu nữ. Bước vào nhà ông nói luôn, tôi mang Nhã Nam xuống đây trọ một đêm sớm mai bước vào thi đại học. Hai bố con vừa dắt nhau vào trường tìm phòng thi để sớm mai đỡ lúng túng. Tôi mừng nói, Nhã Nam mặt mũi tươi sáng thế kia nhất định là sẽ đỗ. Nghe thế ông sung sướng cười rưng rưng nước mắt. Bữa cơm dọn ra thết bố con ông chỉ có bát canh cua, đĩa chạch kho mặn, ít dưa chua và vài bìa đậu. Tất nhiên cũng không quên có một chai rượu sắn. Ngày ấy cả nước đều uống rượu sắn. Ông không động đũa đến bất cứ thứ gì ngoại trừ chai rượu và mấy bìa đậu. Sau cùng chỉ còn có tôi ngồi trước ông, khi tôi giục ông vào giường ngủ lấy một giấc thì ông xua tay, tôi còn có chuyện này muốn dặn anh. Buổi tôi mang gia đình quay lại Nhã Nam thì Nhã Nam vẫn còn đang nằm trong bụng mẹ. Nhà cửa, sổ gạo bỏ lại Hà Nội tất, tiền nong trong túi không có bao nhiêu, lên vài ngày đã thấy phen này đói to, cái ở chưa lo bằng cái ăn. Đang lúc nghĩ chưa ra mưu chước gì thì ông Chủ tịch huyện đi qua tạt vào thăm hỏi đôi điều, mấy hôm sau cho người mang đến một cái sổ gạo, ít tem phiếu. Sổ gạo có tên hai vợ chồng và cả bốn đứa con. Như thế là kể cả đứa ở trong bụng chưa có tên. Có người cho biết đấy là anh Đồng Văn Đạo. Rồi lại nghe tin anh ấy đã về tỉnh làm ủy viên thường trực ủy ban. Tôi vẫn mong có một dịp được ngồi với anh ấy trò chuyện mà chưa được. Khi nào gặp anh ấy Chu đừng quên chuyển giùm tôi một lời biết ơn chân thành. Ông nói với hai dòng nước mắt ràn rụa. Mấy năm sau một lần tôi theo ông Đạo xuống Gia Lương, dọc đường lựa lời thưa lại chuyện này. Nghe xong ông cười lớn, có gì đâu, đấy là trách nhiệm của chúng tôi mà. Chu thử nghĩ, chúng ta đâu có cần đếm là đã có bao nhiêu gia đình trong thiên hạ bồng bế con cái tìm đến vùng này nương thân trong cả hai cuộc kháng chiến. Không và mãi mãi sẽ không. Người xưa thường dạy với người bỏ ta đi thì ta đành chịu nhưng với người trở lại với ta thì cho dù khó khăn đến mấy cũng giải quyết cho bằng được. Huống hồ đây lại là nhà văn Nguyên Hồng. 

Ông bà tiễn chân chúng tôi tới bờ sông máng. Trải dài theo dòng nước trong vắt là một cánh đồng hẹp lúa má vừa gặt xong. Thôn xóm bên kia cánh đồng nhà cửa lấp ló sau rặng tre vắng vẻ. Lên xe ngoái lại thấy ông bà đưa tay vẫy vẫy. Đường lớn xe tăng tốc, tới một quãng trống trải trông xa xa là một khúc đê cao. Tôi quay sang nói với nhà báo trẻ, mình thấy thơ văn đâu đó khi viết về sông Thương các tác giả thường nghĩ Thương nghĩa là đẹp. Lẽ ra phải đính chính Thương ở đây không có nghĩa là đẹp mà là xanh. Chừng nào sông Thương tìm lại được màu xanh của nó nhỉ?…

Tháng 12/2016.

Tùy bút của Đỗ Chu

 


Quê nhà, người cầm bút, nhà văn
 
Bình luận mới vừa được thêm vào. Click để xem
Mới nhấtHay nhấtXếp theo:
 
 
 
 
 
     
 
Đảng viên Nguyễn Văn Tuấn: Gặp khó, ló sáng kiến

Đảng viên Nguyễn Văn Tuấn: Gặp khó, ló sáng kiến

(BGĐT) - Là tổ trưởng tổ nghiền thuộc Phân xưởng Xi măng (Công ty cổ phần Sông Cầu Hà Bắc), anh Nguyễn Văn Tuấn (SN 1980) có 12 năm gắn bó với doanh nghiệp. Làm việc tại đây, ngoài thể hiện tinh thần gương mẫu, trách nhiệm, tận tụy với công việc, anh còn có nhiều sáng kiến làm lợi cho đơn vị hàng trăm triệu đồng.

Tiến độ xây dựng chợ, trung tâm thương mại quanh khu công nghiệp: Chậm, vì sao?

Tiến độ xây dựng chợ, trung tâm thương mại quanh khu công nghiệp: Chậm, vì sao?

(BGĐT) - Theo Đề án "Giải quyết một số vấn đề xã hội quanh khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh", từ năm 2013 đến 2018 sẽ xây dựng 7 chợ và trung tâm thương mại (TTTM) quanh khu công nghiệp (KCN) để phục vụ nhu cầu mua sắm của công nhân và người dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tiến độ thực hiện Đề án rất chậm.

Bảo quản bưởi Diễn trong thùng xốp thông minh

Bảo quản bưởi Diễn trong thùng xốp thông minh

(BGĐT) - Để bảo quản quả bưởi Diễn được lâu ngày, tăng chất lượng và giá trị của quả sau thu hoạch, ông Vũ Công Phong, giáo viên Trường THCS Quý Sơn số 1 (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)  đã đưa ra ý tưởng “Bảo quản bưởi Diễn trong thùng xốp thông minh”.

Về đích

Về đích

Một vận động viên nỗ lực về đích tại Giải Việt dã do Công an tỉnh Bắc Giang tổ chức tháng 5-2017.

Trường Sa  trong trái tim tôi !

Trường Sa trong trái tim tôi !

(BGĐT) - Trường Sa không xa, đó không chỉ là cảm nhận của riêng tôi mà với bất cứ ai được ra thăm những “cột mốc chủ quyền” giữa trùng dương. Trường Sa không xa bởi cuộc sống của quân và dân trên đảo luôn có sự đồng hành sẻ chia của đất liền, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng với tấm lòng, niềm tin yêu của hơn 90 triệu người dân đất Việt.

Du lịch nhân văn

(BGĐT) - Kỳ nghỉ hè là lúc lượng khách đi du lịch lớn nhất trong năm. Đáp ứng nhu cầu của du khách, các sản phẩm, tua tuyến du lịch ngày càng đa dạng, phong phú, hấp dẫn. Đáng chú ý là những sản phẩm du lịch mới mang tính giáo dục và nhân văn sâu sắc.